Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2025

Khi đêm tĩnh mịch (Edna O' Brien)

 “Mỗi cuộc đời phải kinh qua tất tật niềm vui và nỗi buồn, được và mất - những điều hợp thành lịch sử nhân loại.” (Thomas Mann)



KHI ĐÊM TĨNH MỊCH

                                                     - Edna O’ Brien


Đó là một ngôi làng nhỏ bé, ngái ngủ, với tảng đá vôi trắng nằm ườn trên bãi cỏ làng, từ đó mọc lên một cây dẻ gai khổng lồ xen lẫn vài cây non uốn lượn. Thật nên thơ, hẳn bạn sẽ nói. Đời sống nơi đây chỉ phát ra tiếng rì rầm khe khẽ. Bạn ghé qua, rồi lên đường tới nơi nhộn nhịp hơn. Bạn đâu ngờ chốn này lại cư ngụ ngần ấy tâm hồn thao thức, đang mơ về một định mệnh khác. Vừa vào làng, bạn thấy một nhà thờ đá kiểu La Mã, thuộc vào những nhà thờ cổ nhất vùng, kế bên là nghĩa trang; trên những bia mộ bám đầy những mảng địa y trắng toát, to như viên kẹo ngậm, trông nổi bật, thậm chí khôi hài. Tương phản là sân bóng ném sát cạnh, phủ rêu xanh và rịn ẩm vì bao năm mưa dầm. Đây là một xóm mưa bởi nó nằm trên đường đi của dòng Gulf Stream. Hiếm khi bắt gặp ai chơi bóng ném, ngoại trừ những ngày Chủ nhật, lúc các cậu trai, giẫm qua những ngôi mộ và vòm hoa, chợt nổi hứng tìm trò tiêu khiển bằng cách ném bóng hay vài hòn đá vào bức tường xi măng xanh rêu ẩm ướt. Song chẳng mấy chốc chúng cũng chán và kéo nhau đi nghịch ô-tô cũ hay xe máy cà tàng.


Ấn tượng đầu tiên của bạn là chỗ này thật heo hút, cả tâm hồn lẫn cơ thể đều trở thành con mồi cho nỗi buồn chán dai dẳng. Bạn bắt gặp nhiều chó, đa số là chó lai, rượt nhau trên bãi cỏ mênh mông hoặc lim dim ngủ dưới nắng. Bên trong tiệm tạp hóa nồng mùi bột mì cùng ngũ cốc, nếu may mắn bạn sẽ thấy chuối hoặc nho, nhưng thường chỉ có táo. Bạn có thể bị cám dỗ bởi loại bánh quy mặt rộng, tròn như mặt đồng hồ, điểm lốm đốm những quả nho khô nâu sậm. Bạn sẽ chẳng ngờ rằng trong ngôi nhà lớn cổng sắt uốn lượn hoa văn và con đường dẫn vào ngoằn ngoèo, rậm rạp, đã từng có một người mất trí. Người ta bảo đó là do em gái bà, Angela. Sau nhiều năm sống trong tu viện, Angela, khiến cả dòng tu lẫn họ hàng thất vọng, đã bỏ đi và chuyển tới ở cùng Margaret trong ngôi nhà lớn. Ban đầu cô em gái giấu mình, ngay cả với chồng của Margaret; nhưng dần dà, khi tóc dài ra, bà đi khỏi phòng ngủ, rồi cũng mạnh dạn xuống phòng khách, gõ đôi nốt trên chiếc đàn piano. Người ta bảo chính tại đó, Ambrose - chồng Margaret - đã lần đầu trông thấy bà trong trang phục thế tục, vì dĩ nhiên trước đó ông chỉ thấy bà trong bộ áo dòng. Ambrose, vốn ưa chải chuốt, lập tức bị mê hoặc bởi vẻ đẹp và thân hình mảnh mai của bà trong chiếc váy nhung nâu dài, cài khuy dọc giữa thân và xoè nhẹ ở gấu. Mọi chuyện đều có thể xảy ra với ba con người đang cùng héo mòn trong một ngôi nhà, một ngôi nhà lớn, ẩm thấp, với những chiếc cồng treo trên tường bếp và có vô số hành lang mốc đáng ra phải được sơn lại song vẫn để mặc vì thiếu tiền triền miên. Người ta có thể khiến nhau phát rồ trong hoàn cảnh ấy. Angela ăn như chim, làm vườn và buổi tối thì chơi piano. Bà cũng hát. Bà hát Oft in the Stilly NightThere’s a Bridle Hanging on the Wall. Vào những buổi tối mùa hè, qua vòm cửa sổ mở rộng, giọng hát đó vang tới tai bọn trẻ hay những người đang vắt sữa ngoài đồng gần đó; ai cũng thấy nó hơi chói tai. Người làm vườn, mỗi tuần ghé một lần để phát cỏ, đã trộm tráp quả lý gai của họ và kiên quyết không chịu tra dầu vào bản lề cổng nghĩa trang hay làm bất kỳ việc gì khác bởi họ chưa bao giờ mời ông vào nhà hay đãi một tách trà, họ quá kênh kiệu. Hàng xóm nói ông hoàn toàn có quyền lấy tráp quả lý gai và vòi ông một lon nhỏ cho mình. Đó là những trái lý gai vàng, mọng nước, rất ngọt.


Hai chị em gái, Angela và Margaret, cãi vã suốt ngày; có lúc gay gắt đến nỗi đồ của Angela bị quẳng ra cửa sổ - váy, cooc-xê, sách kinh và tràng hạt, cả chiếc khăn choàng lông mà bà hay quấn khi dự lễ với cái đầu cáo nhỏ tinh quái.  Thế nhưng Ambrose lúc nào cũng xen vào, kéo Angela trở lại từ lối đi, thậm chí từ ngoài cổng nếu bà toan lảng vảng ra xa. Không ai biết, cũng chẳng ai hình dung nổi, bằng cách nào mà trật tự tái lập, dường Ambrose đã vận tới những “chiến thuật” ngọt ngào hoặc quyền uy nào đó. Thiên hạ kháo nhau rằng ông và Angela đã ôm ấp nhau ở vườn sau nhà bếp. Nhiều người nói đã nhìn thấy, và ai cũng thắc mắc tại sao vợ ông không tống ông đi, nhất là khi ngôi nhà do bà đứng tên. Ambrose thuộc hàng quý ông và lánh xa lao động. Ngay khi cưới Margaret, người giản dị hơn, ông liền cho thuê đất để chăn thả và thư thái với những thú tiêu khiển nhàn tản như nuôi ong hay ủ rượu hoa cơm cháy. Ambrose kém hiểu biết đến mức trở thành đề tài của một trò đùa muôn thuở. Ông từng nuôi một con vật ốm yếu không đủ sức lê khỏi máng cỏ. Ông nhờ vài người dân địa phương, hy vọng tránh được khoản tiền thuê bác sĩ thú y, và họ chỉ đơn giản xoay con vật xem có ích gì không. Khi Ambrose quay lại chuồng sau một thời gian, ông nói với hai người kia: “Mắt nó sáng hơn rồi đấy,” trong khi thực ra ông đang nhìn phần hậu của nó. Hai người kia được một trận cười hả hê và, theo năm tháng, câu chuyện ấy còn được tô vẽ thêm.

Không lâu sau khi Angela dọn tới sống, chuyện về bộ ba bất hạnh bắt đầu rò rỉ và lời đồn lan khắp, đến mức vài người thề sẽ trèo qua bức tường cao vào vườn sau bếp để rình qua cửa sổ phòng khách. Chẳng ai lui tới nhà ấy bao giờ vì Margaret keo kiệt đến mức nhiều lần đem trả lại gói thịt xông khói cho tiệm, nói là thiếu một lát. Vận may chẳng đứng về phía họ. Angela đổ bệnh, gầy rộc, buộc phải đi khám và biết mình mắc bệnh hiểm nghèo. Tinh thần cảm thông bỗng dưng phơi phới; những điểm tốt của bà - giọng hát, sự mộ đạo khi dự lễ, gu ăn mặc - đều được ca ngợi. Bà chết vào tháng Sáu, được lo một đám chu toàn. Chưa đầy một tháng sau, ông anh rể cũng đi theo bà, dĩ nhiên chuyện này càng củng cố tin đồn về mối tình vụng trộm. Margaret trở thành đối tượng thương hại, được biếu mứt và bánh quy bơ, được mời dự các buổi đánh bài nhưng bà chẳng bao giờ đi. Vài năm sau, chính Margaret cũng lâm bệnh, liệt vì viêm khớp dạng thấp. Ban đầu bà còn chống gậy đi lại được và ở bưu điện, nhiều người háo hức bàn luận về cơn đau của bà, gợi đủ phương cách chữa trị song đều vô hiệu. Cuối cùng bà phải nằm lì trong nhà.

Cô y tá cộng đồng ghé mỗi tuần một lần, tự đẩy cửa sau nhà bếp đi vào vì cửa chỉ khép hờ. Cô kể rằng Margaret đã lui hẳn về phòng tân hôn, nơi tình yêu ngủ yên dành cho chồng bỗng bùng lên kỳ dị. Tên ông luôn ở trên môi bà cùng những câu chuyện từ thuở tán tỉnh, món ăn ông ưa thích và hình ảnh ông được bà lý tưởng hóa đến tận ngày ông chết. Vài phụ nữ trong làng cũng từng tới thăm nhưng Margaret không nghe thấy tiếng gõ cửa, cái tay gõ đã gỉ nên bà như bị giam lỏng trong căn phòng tân hôn cửa chớp bọc nỉ xanh đóng kín, không thể tiếp đón những người khách mà bà mong mỏi, bà lẩm bẩm cầu kinh, gọi tên chồng, đôi khi lẫn lộn các thứ trong tuần, tự hỏi không biết hôm nay có phải ngày cô y tá cộng đồng ghé thăm không.

* * *

Bạn cũng không biết rằng ngay trên phố chính, trong dãy nhà giả kiểu Georgian, ẩn náu biết bao chuyện rối ren. Có một người đàn bà bất hạnh, ngày ngày cọ rửa và lau dọn để kiếm sống, trong khi chồng bà rình rập ở rừng để tấn công các thiếu nữ và phụ nữ. Có những người ông ta chẳng cần tốn công vì vốn lẳng lơ tự tìm đến, la cà, rồi để mặc mình bị lôi tuột vào những lùm cây rậm rạp, bụi dương xỉ hay thảm cỏ. Một cô gái hiền lành tên Oonagh làm nghề giặt thuê, hồ ga trải giường và khăn bàn cứng như ván. Dây phơi của cô chưa từng thưa ga trải giường, khăn bàn, khăn ăn và cả những món trang phục riêng tư. Gần đó có một bà liều lĩnh dám chứa chấp bọn lang thang du mục, thậm chí cho lên tận phòng ngủ, năm sáu người rúc vào một phòng. Chẳng lấy làm lạ khi hành lang nhà bà bốc mùi khủng khiếp. Nhiều sáng thứ Hai bà ở cửa sổ tầng trên giũ chăn bông, hàng xóm buông lời châm chọc, không nhắm thẳng vào bà mà nói bóng gió với nhau để bà nghe thấy. Khách sạn Bọ Chét là biệt danh người ta đặt cho ngôi nhà đang mục nát của bà. Một bà khác, đứng đắn, sống trong ngôi nhà đá đẽo có cửa sổ vòm, là nạn nhân của một trong những kẻ lang thang, bà bị trộm mất giày. Đó là đôi giày brogue màu nâu vàng mà bà định nhuộm thành nâu sẫm. Chúng đang được phơi khô thì có một mụ đàn bà bế con tới xin ăn; bà không tiếp dù mụ gõ cửa liên tục và van vỉ về đứa bé trong tay. Trong cơn túng quẫn, mụ thuổng luôn đôi giày. Mụ bị tóm không lâu sau đó, viên trung sĩ tìm thấy mụ tại một hội đua thuyền nào đó - đang hành nghề bói toán, ngồi xổm trên một tấm nhung đỏ, nom giống hệt nhà hiền triết phương Đông - và đang đi đôi giày đó. Tại tòa, người tố cáo - một phụ nữ có chồng mặc áo khoác đen viền lông cừu Persian chạy dọc phía trước - bỗng nguội ý trả thù. Bà chợt nhớ lại tuổi thơ, cảnh khốn khổ tột cùng cùng chuyện tổ tiên bị đuổi khỏi những cánh đồng màu mỡ và phải chạy lên sống nơi núi non. Bà hối hận vì đã báo công an, khẩn khoản xin quan tòa bỏ qua và rộng lòng tha thứ. Quan tòa, vốn không ưa những vụ ngắt ngang vào một ngày bận rộn – phòng ngoài đang chật kín người chờ xử – gắt gỏng bảo bà lần sau nên thận trọng khi xin khoan hồng và để dành sự ăn năn đó cho tòa giải tội. Lúc đôi giày được trao trả, bà còn xin cho mụ lang thang được giữ, nhưng tất nhiên bị từ chối; bà rời tòa, cầm đôi giày lõng thõng như toan buông ngay khi ra khỏi. Mụ lang thang bị tuyên án giam bảy ngày đêm ở nhà lao huyện, có thể được miễn nếu nộp khoản phạt năm mươi bảng. Dĩ nhiên chuyện đó là bất khả, và thế là cả bọn lang thang lao vào cuộc chè chén điên cuồng khắp thị trấn, vừa chửi rủa vừa thề sẽ báo thù.

* * *

Ở một ngôi nhà khác, một vị linh mục thần kinh bất ổn, đã bị tước áo dòng, gần như ngồi lì một chỗ suốt cả ngày. Vụ bê bối lớn đến mức khó thốt nên lời. Lý do được biết là bởi chứng thần kinh, nhưng có kẻ từ xa trở về tiết lộ một bí mật mờ ám, rằng vị linh mục có thói hau háu phụ nữ. Dù sao vị linh mục cũng không thể làm lễ, thậm chí phụ lễ trong các Thánh lễ trọng, và mỗi Chủ nhật người ta vẫn thấy vị linh mục cùng mẹ đi trên con đường dẫn tới bệnh viện, hái cành cây mang về trang trí phòng khách. Họ là những người duy nhất gọi căn phòng đó bằng cái tên ấy, trong khi những người khác gọi là “parlour” hoặc “drawing room”; và họ cũng là những người duy nhất đem hoa và cành cây vào trong. Một sự khoan dung nho nhỏ dành cho vị linh mục trẻ là chứng điên vốn đã di truyền trong dòng họ, bởi nhiều năm trước có người anh trong họ cũng từng treo cổ tự tử trên cây.

* * *

Vâng, bạn sẽ đi ngang qua những ngôi nhà có kẻ say xỉn, nơi những ông chồng vào ngày lĩnh lương mãi tận khuya mới về, vợ họ chặn lại ở đầu cầu thang, cuối cầu thang, hoặc bất cứ chỗ nào; còn có những ngôi nhà của mấy gã độc thân, nơi các căn phòng chưa từng được bàn tay phụ nữ chạm vào nên phủ bụi và hơi thiếu niềm nở. Bạn sẽ đi qua các gia đình có trẻ con, lại một gia đình khác nuôi ngựa cùng ngựa con, ngày trước từng có một con ngựa chẳng may phi thẳng ra đường lớn và bị một tài xế đâm chết, rồi chính tài xế đó lại kiện gia đình kia vì tội cẩu thả. “Chém cha nó làm đôi đi,” cậu con trai út trong nhà hay nói, như một màn diễn lại đầy thương cảm cảnh con ngựa cái bồn chồn — và con ngựa cái cuồng loạn, hoảng hốt ấy còn được nhắc đi nhắc lại.

Bạn sẽ gặp một cựu giáo viên âm nhạc, bây giờ không còn nhận học trò  nữa song vẫn giữ nguyên những bản nhạc trên cây đàn piano nhằm chứng minh tài nghệ trước kia; bà cho lũ gà trống nhỏ chạy tung tăng khắp nhà. Không xa đó là một quý ông, từng một thời sống như bất kỳ tù nhân khổ sai nào ở Úc, nay đã trở về chốn cũ. Ông có tội bắn vào một cô hầu quầy rượu vì đã từ chối phục vụ ngoài giờ; trớ trêu thay, ông lại là một tay bắn cừ và đã giết chết cô. Giờ đây ông không còn uống rượu nữa, sống gần như ẩn dật, tối đến chơi bài một mình. Có một cặp đôi say đắm, bởi tất nhiên làng nào chẳng có một cặp như thế. Họ không đẻ con, tự tay làm kẹo bơ đường và trao nhau những lời âu yếm sướt mướt, kể cả vào bữa sáng. Mỗi khi người chồng đi làm ở xưởng lâm nghiệp, người vợ lại lén lút đạp xe theo, ém mình sau bức tường đá vôi cao ở rìa khu rừng để chắc chắn rằng người chồng không trò chuyện hay giao du với bất kỳ cô gái trẻ phóng túng nào.

* * *

Còn nữa, trong ngôi nhà có hiên bày đầy những chậu phong lữ rực rỡ là một nhan sắc đang nở rộ, đầy đặn nhưng không quá đẫy, đôi mắt xanh biếc và trong vắt, hốc mắt như những nghiên mực, trong đó màu xanh mê hoặc kia cứ xoáy tròn, đôi mắt sẵn sàng đón tình yêu. Cô đọc tạp chí, cắt ra những mẹo về tóc, sắc đẹp, vóc dáng và đủ thứ tương tự. Trẻ con thì ê hề, phần lớn thời gian bị nhốt ở trường còn kỳ nghỉ hóa thành mối phiền toái. Có một tiệm đóng yên ngựa, từ khung cửa tỏa ra mùi dễ chịu của da mới và dầu lanh; không xa là tiệm đóng giày với mùi nồng của mồ hôi và da cũ, gồm một mớ hỗn độn giày dép cũ chất đống như một giàn hỏa táng xa xưa. Thế rồi, cứ ba buổi sáng mỗi tuần, có mùi thơm phấn chấn của bánh mì mới khi một chiếc xe tải từ thành phố lớn chở khay bánh mì ổ, bánh rock bun và bánh trà tới cửa hàng. Cơn đói đeo bám cả làng, những người đàn bà đang dở tay giặt giũ hay ủi đồ vội băng qua đường, còn mặc nguyên tạp dề, nhiều khi chưa kịp mang tiền, nóng lòng giành ổ bánh dài, mềm, là thức quý của sự sống.

“Tôi trả sau nhé” hay “Tôi sẽ trả vào thứ Sáu” là những câu họ thường nói khi tất tả trở về bếp để ngấu nghiến món ăn mang tính thánh lễ ấy. Trong căn phòng ấm cúng của quán rượu, vào giờ đó đã có một hai tay bợm, nhấm nháp, đều đều, ý thức rằng ngày mới chỉ vừa bắt đầu; ở đó cũng rộn ràng những câu chuyện phiếm song giọng điệu chừng mực hơn.  Trong khoảng nhá nhem ấy phảng phất mùi bia porter cũ lẫn mới, ánh sáng mờ ảo vì tấm rèm màu be luôn luôn buông xuống nhằm giữ sự riêng tư. Những người đàn ông, khi rốt cuộc cũng cất lời, thường tìm cách thoát khỏi chuyện vụn vặt của môi trường xung quanh để bàn đến những vấn đề thế giới, dựa trên vài mẩu tin lượm lặt từ báo chí. Đồ đạc ở đây đều đóng bằng gỗ nâu, quầy bar hằn những vòng tròn do đáy ly kết lại, những vòng tròn lồng vào nhau như những vòng tuổi trong lõi cây.

Những ổ bánh vừa nhanh chóng giành được được các bà nội trợ phết mứt, kẹp dưa muối hay bất cứ thứ gì có thể giúp buổi sáng thêm phần hứng vị, rồi lại thoắt tới giờ lo bữa trưa. Họ vội vàng đi ra vườn sau cắt một hai cây bắp cải, rửa sạch đất và ốc sên rồi cho vào nồi luộc, món ấy thường dành cho giữa ngày, ăn kèm thịt ba rọi muối. Với một số người đó quả là bữa lớn béo ngậy, với vài người khác chỉ là những mẩu vụn. Trẻ con ngồi ở vườn trước ăn bánh mì rắc đường, ngôi làng có bề xôn xao quanh giờ trưa, người qua kẻ lại, chó trên bãi cỏ làng tranh khúc xương sủa ầm ĩ, tranh lãnh thổ hay lên cơn bệnh. Thế rồi tất tật lại lắng xuống cho tới giờ uống trà. Người già lim dim ngủ, và từ cửa sổ trường học - nếu mở - vọng ra tiếng lũ trẻ hoặc la hét, hoặc đồng thanh đọc bài.

Vào buổi tối, mùi của những cây thủy tùng và thông dường đậm hơn, nhất là sau cơn mưa. Chúng mọc um tùm trong khuôn viên nhà thờ, có cây được trồng từ nhiều năm trước, có cây tự gieo hạt mà thành. Băng qua con đường trước nhà thờ, đập vào mắt là một ngôi nhà hai tầng xây bằng đá. Ngôi nhà từng được sơn màu xanh lam nhưng nay chỉ còn là bản sao mờ nhạt của màu xanh ấy. Khu vườn thật thảm hại. Mọi thứ mọc tràn lan: cây cối, bụi rậm, gai gốc, tất tật rối thành mớ như nút thắt điên loạn, không chỉ che khuất lối đi mà còn leo hẳn lên những ô cửa sổ, khiến không ai nhìn được vào trong. Bên trong là Ita. Ita từng là một tấm gương mẫu mực của nơi này, một người ngoan đạo được ngưỡng phục nhất. Ngoài việc chăm sóc anh trai, nuôi vài con gà mái và gà con hay vắt sữa bò, cô còn chăm coi nhà thờ; cô là người giữ đồ thánh. Nhà thờ vừa là chốn nương náu vừa là vườn hoa của riêng cô.

Bên ngoài, và bởi sự khắc nghiệt của thời tiết, lớp đá xanh được cắt dường gieo một vẻ ảm đạm cho người qua đường; song bên trong, mọi thứ sáng bóng xứng làm chỗ ngự của Chúa. Đèn chầu bằng bạc Paduan, luôn luôn thắp sáng, treo thấp trên những sợi xích đan mắt cáo; chiếc chén của nó đục những lỗ nhỏ, bên trong đặt một bát đỏ chứa dầu thánh, lúc đầu óc ách rồi khẽ đong đưa; ở đó sợi bấc nổi ngọn lửa thiêng đỏ như lưỡi, báo hiệu hiện diện của Chúa Kitô. Mỗi lần Ita McNamara bước vào, cô không chỉ quỳ gối mà phủ phục trước ban thờ cầu xin Chúa hãy làm ngọt chén đắng của mình, và Chúa đã làm vậy.

Đã nhiều năm trôi qua song ký ức ấy vẫn còn nguyên. Sắp đến kỳ các thừa sai trở về. Ban thờ phải được trang hoàng lộng lẫy. Cô không lo, biết mình không phải xoay xở với vài cành thường xanh hay bụi cây bởi mấy cô gái đạo Tin Lành độc thân ắt để một bó hoa ở hiên nhà nguyện, đầy đặn như một bó lúa. Họ là những người duy nhất trồng hoa; những người khác hoặc không có thời gian hoặc không hứng thú thứ chuyện “màu mè” ấy; họ chỉ trồng khoai tây, bắp cải, củ cải thay vì hoa hay cây cảnh; thi thoảng mới thấy vài nhành kim ngân dại len lỏi qua mái hiên hoặc vài cụm hoa đuốc đỏ rực gan góc thách thức cái ẩm ướt ủ ê của một khu vườn tồi tàn, còn tuyệt nhiên không có hoa cỏ sum suê. Người nào người nấy còn bận tối mắt tối mũi lo thân và cố gắng kéo dài tồn tại. Đó là tháng Sáu khi biến cố ập xuống với Ita. “Lưới của quỷ,” cô giáo dạy nấu ăn đã đặt cái tên bay bướm ấy và nhắc những tín đồ còn đang bàng hoàng rằng nhiều nhà thần bí thời Trung Cổ cũng từng mắc các triệu chứng như vậy; Ita hẳn đã được cứu nếu trong vùng có một ông bác sĩ tỉnh táo. Trước quãng sa sút là khúc hoan ca của cô. Những bông hoa cô hằng mong đợi quả thật đã xuất hiện trên hiên nhà nguyện và, đó là một bó hoa phóng khoáng. Cô chạy về nhà lấy thêm lọ, có lẽ vừa lẩm bẩm một lời cầu cho mấy kẻ ngoại đạo tội nghiệp, vừa mong một tia sét sẽ giáng xuống họ như đã giáng xuống Saul thành Tarsus. Nỗi lo của cô về sự sa đọa nơi họ không hề giấu giếm. Cô từng thú nhận rằng da thịt mình bỏng rát khi nghĩ đến chuyện đó, rằng cô ngứa ran ở nách và các khớp như thể có những hòn than hồng kẹp bằng kìm đặt vào đó. Cô thường nhờ người khác nhớ đến họ trong lời cầu nguyện, để họ không bị vĩnh viễn thất lạc, vĩnh viễn bị xua ra sau cánh cổng địa ngục, giữa những đoàn lũ gớm tởm chính mình và tru tréo thảm thiết.

Anh trai Ita, khi ấy còn sống, thấy cô nhặt ba lọ mứt rỗng, đổ phần mứt cam còn sót lại đã mốc từ một lọ khác, sục rửa, rồi rút mấy bông hoa giả khỏi chiếc lọ xoắn sắc cầu vồng và chạy đi. Cô mất khá lâu để trang hoàng ban thờ. Cô đặt hoa xanh và tím ở các bậc thang lên bàn thờ, dành riêng hoa loa kèn trắng - loài hoa của Đức Mẹ - cho ban thờ, đặt chúng hai bên nhà tạm chạm vàng. Mấy bông diên vĩ cam vì quá chói nên được đặt ở hiên ngoài gần bồn nước thánh. Cô ngây ngất ngắm toàn cảnh, khăn phủ ban thờ tựa lá cờ phủ sương, hoa trắng mờ ảo, mượt như sa-tanh, những cây nến sáp ong tinh khôi, rồi cả những loài hoa khác đặt dọc bậc thang, nơi mà khốn thay, lũ tiểu đồng nghịch ngợm có thể đá văng hoặc giẫm nát khi mải chạy xung xăng. Cô chẳng ưa bọn con trai ấy, trong thâm tâm rặt là lũ ngoại đạo, hay trêu chọc cha xứ, thử mặc lễ phục của ông, bắt chước giọng ngân nga và cả cách đôi mắt ông đảo lên trời.

Hôm sau cô cọ sạch nền gạch, đánh bóng toàn bộ gỗ, thậm chí cả những băng ghế nơi người ta đặt mông và những tấm áo lễ còn ướt. Không còn một mạng nhện nào ở các góc cao của trần hay khung cửa sổ, không một vết bụi bám dọc viền cửa phòng giải tội và các bậc gờ, cửa nhà thờ được mở toang để làm thoáng khí. Sau đó cô kéo hai cái thang gỗ đã cong vênh lại, đặt một tấm ván bắc ngang, kê thêm một cái ghế lên trên rồi trèo lên để châm dầu đèn chầu. Ngay cả người anh trai cũng lo cô có thể lên cơn co giật. Anh nằng nặc bắt cô nghỉ, nhưng không, còn một việc cuối. Cô phải làm một chiếc bánh bông lan cho vị thừa sai dù chẳng biết khẩu vị của ông thế nào. Vị thừa sai năm trước đã cao tuổi và để lại cho họ một ấn tín nghiêm khắc, rằng khi nằm trên giường, họ phải khoanh tay thành hình cây thánh giá và đọc:

Con phải chết, không biết khi nào, ra sao,

Cũng không hay nơi nào; nhưng nếu con chết trong tội trọng

Linh hồn con sẽ vĩnh viễn hư mất.

Ôi lạy Chúa Giê-su, xin thương xót con.

Vâng, mọi thứ đã sẵn sàng, nhà nguyện sạch bóng, ban thờ sáng rỡ, chiếc bánh bông lan kẹp mứt chanh rắc đường đặt trên đĩa và Ita thì búi gọn mái tóc dài rồi giữ bằng kẹp nâu. Nếu có điều gì khiến cô bận tâm thì đó là sự “mạo phạm” - theo cô nghĩ - mà dân trong vùng gây ra cho nhà thờ. Cô khó chịu khi họ lũ lượt kéo vào, thích thú ngắm hoa, nuốt lấy nuốt để những lời vị thừa sai giảng rồi còn nán lại để trò chuyện với ông. Nhiều nông dân người ám sệt mùi phân bò lẫn đủ thứ khác; nhưng những cô gái thị trấn còn tệ hại hơn, hôi mùi tội lỗi, và Ita biết rõ toàn bộ. Nếu được quyền, cô sẽ lôi những cô gái này nhốt vào một căn phòng tối, đánh một trận rồi bỏ đói đến chết. Một ả đàn bà lẳng lơ còn dám trơ trẽn hỏi Ita có cần phụ việc ban thờ hoặc có thể giặt mấy tấm khăn thánh chăng. Khăn thánh à! Bàn tay dâm đãng của ả chạm vào nó, tấm ván giặt từng bị đập giũ những thứ dơ bẩn của ả cọ vào nó. Ita tát ả, gọn cả hai má, đến mức người ta kháo nhau rằng Ita McNamara đã phát điên, mất trí hoàn toàn.

Tối hôm đó cô đến nhà cha xứ, gõ cửa hông và nói chuyện với cô hầu cau có, người vừa “Ừ hử” vừa đi dọc hành lang gọi “Thưa cha, thưa cha.” Cha xứ tiếp Ita trong tình trạng không đeo cổ cứng, tỏ rõ vẻ khó chịu vì bị quấy rầy. Trên môi ông còn vương vụn bánh vàng óng. Ông nghe lời giải thích của cô và chấp nhận đề nghị xin dâng một lễ đền tội. Đó là một khoản quyên lớn, số tiền cô đã dành dụm để một ngày nào đó đi Dublin. Cô không hối tiếc. Niềm vui của cô trong phận sự là tuyệt đối, và tối trước ngày khai mạc kỳ thừa sai, cô quỳ xuống giây lát để ngắm cung điện nhỏ của mình, thả mình trong khoảnh khắc ngây ngất. Một đứa trẻ đang quỳ ở cuối nhà nguyện kể rằng nó thấy Ita McNamara lảo đảo và loạng choạng bám lấy lan can ban thờ, sau đó nghe cô nói hoặc với chính mình, hoặc với Chúa, hoặc với ai đó.

Có lẽ mọi chuyện bắt đầu từ đó, dù những người khác quả quyết rằng nó vốn khởi sự ngay khoảnh khắc cô chạm mắt vị thừa sai. Đó là một người đàn ông trẻ, xuất hiện bất ngờ. Ông bước vào nhà nguyện nhẹ đến mức gần như không nghe thấy tiếng, trong đôi dép quai da đã sờn. Khi thấy cô đang làm việc, ông mỉm cười. Từ một lọ xịt nước hoa bằng thủy tinh, Ita tưới lên những đóa hoa như tắm cho gương mặt của chúng. Vị linh mục mảnh khảnh, có vẻ mong manh đó tự giới thiệu mình là Cha Bonaventure và khen ngợi vẻ đẹp của nhà nguyện. Ông nói người ta có thể ngỡ mình đang ở Chartres hay Lourdes bởi khung cảnh quá đỗi tôn nghiêm. Cô cảm ơn ông rồi khẽ lui khỏi, trong đầu đã ghi lại cặp kính không gọng với nửa dưới mỗi tròng là lớp kính dày hơn, chiếc áo lễ rộng màu lau sậy và giọng nói dịu dàng mà sắc bén như lưỡi dao cắt kim cương.

Bài giảng buổi tối đầu tiên của kỳ thừa sai vang lên với chất giọng dịu dàng, trầm ngâm; nhưng chẳng ai bị sự dịu dàng ấy đánh lừa, nhất là những cô gái trẻ lầm lạc vốn cảm nhận được sự nghiêm khắc trong con người ông; những chàng trai trẻ cũng gai người trước cái nhìn soi xét khi ông bảo họ hãy vén tấm màn che, nhìn thẳng vào linh hồn mình và tự hỏi liệu bằng những hành vi hay các ý tội lỗi, họ có đang đóng đinh Đấng Cứu Chuộc yêu thương của mình và đâm vào linh hồn chí thánh của Đức Mẹ lưỡi gươm giống như lưỡi gươm đã xuyên qua Mẹ trong những giờ khắc Thương Khó. Giọng ông vang xa. Nó tràn khỏi những khung cửa sổ mở, để cho cả những người Tin Lành đang làm vườn cũng nghe thấy, cả những con vật câm, những con lừa hí vang với bầy muỗi vo ve tụ trên mi mắt, cũng như những cụm hoa mao lương hay anh thảo, cùng  vạn vật đang sinh trưởng ngoài kia.

Chính Ita là người chăm sóc ông sau đó bằng cách mang đến chút glucose và một ly nước. Hình như ông đã ngồi phịch xuống ghế dài trong phòng thánh, mồ hôi lấm tấm trên môi và thái dương, tự trách mình vì chưa lay động được giáo dân đủ mạnh. Ông giống như một nghệ sĩ lớn sợ mình đã đánh mất sự gắn kết với khán giả. Người phụ tá của ông, một linh mục trẻ hơn nhiều, Cha Finbar, khi ấy đang ở ngoài sân nhà nguyện, chào tạm biệt mọi người. Cha Finbar, với làn da phớt hồng như con gái, tất nhiên không giảng, nhưng được gọi để phụ giúp lần chuỗi Mân Côi và nghi thức Ban Phép Lành, có lẽ sẽ nghe xưng tội một vài người. Sau đó hai vị linh mục cùng đi khỏi, những tràng chuỗi mân côi bằng sừng đung đưa theo nếp áo nâu, mũ trùm đã kéo lên vì trời bắt đầu lất phất mưa. Họ đi lặng lẽ trên lối có những quả nhựa đỏ của cây thủy tùng rụng xuống như giọt máu rồi men theo con đường chính giờ đã vắng tanh vì mọi người đã về nhà. Ita nhìn theo họ, vài đứa trẻ đang chơi trốn tìm thấy hết những gì cô làm, rồi đi kể. Cô nhặt một chiếc hộp bánh đặt bên trong cổng nhà rồi chạy theo họ, gần như phi nước đại. Họ đang dừng ở một khúc quanh để ngắm đàn bò màu hung trên cánh đồng. Cô dúi chiếc hộp vào tay Cha Bonaventure rồi quay đi, mặt đỏ bừng. Cô đưa ngón tay lên môi ra hiệu bọn trẻ giữ kín chuyện và dúi cho cả đám một xu.

Mỗi sáng đều có giải tội và toàn giáo xứ được yêu cầu phải dự. Năm nào Ita cũng dõi mắt như diều hâu vì thế nào cũng có kẻ gian lận. Một người xấu hoặc láu cá có thể tiến lên, quỳ xuống, nhưng vào phút chót từ chối Mình Thánh song vẫn quay về với đôi mắt ngoan đạo khép chặt, như thể Mình Thánh đang tan dần trong miệng. Ngay sau khi hai người đầu tiên bước vào tòa giải tội, một sự cố xảy ra. Một cô gái tên Nancy ngất xỉu - theo kiểu kịch cao trào - đến nỗi tay cô đập vào những người bên cạnh và cuốn sách lễ cùng toàn bộ thứ bên trong văng tung tóe xuống lối đi; những tấm ảnh đạo kèm các dòng chữ dung tục đã lọt vào tầm mắt của không ít người. Kết cục là cô Nancy không thể vào giải tội mà được khiêng sang tiệm đóng yên ngựa gần đó và cho uống một thìa rượu bổ pha nước nóng. Ita, ngờ có chuyện mờ ám, liền triệu tập cô em gái nhỏ của Nancy là Della, kéo ra sân nhà nguyện và tra hỏi tới tấp về hành vi của cô chị. Nancy có ra ngoài vào đêm khuya không? Nancy có qua lại với gã nào không? Buổi sáng Nancy có bỏ bữa và kêu buồn nôn không? Tóm lại, Nancy có đang ở trong tình trạng tội trọng và thậm chí là có bầu không? Lại thêm một vết nhơ cho ngôi làng này.

Cô bé Della hoảng sợ đến mức, để đánh lạc hướng, đặt lòng bàn tay lên mũi giáo của hàng rào và dọa sẽ tự đâm mình nhằm đền tội cho cả thế gian, bao gồm cô chị. Ita liền cho Della một trận nên thân rồi đẩy trở lại nhà thờ. Nhiều người nghe thấy và bắt đầu tự hỏi vì sao Ita lại trở nên hách dịch đến vậy. Cô cãi cọ với vài người dân địa phương, đặc biệt với quản gia của cha xứ - bởi các thừa sai đang ở đó - chất vấn bà về thực đơn, bảo bà phải khá lên và lo cho họ món gì ngon hơn súp gói kèm thạch nhân tạo được làm đông bằng sữa đun để tạo độ sánh mịn. Sau này người ta nhanh chóng khẳng định rằng, đúng là họ đã để ý thấy khi ấy nhưng chỉ nghĩ đó là một cơn thất thường.

Cô ở trong nhà thờ nhiều hơn mức cần thiết, bày ra mấy bộ lễ phục cho linh mục, tách từng tấm bánh thánh một cách tỉ mẩn sao cho khi bỏ vào chén lễ, linh mục có thể dễ dàng nhấc từng tấm riêng rẽ. Cô vin đủ cớ để ở lì trong nhà thờ, đánh bóng nền liên tục đến mức làm mọi người trượt chân và có lần người ta nghe cô khe khẽ hát một mình, không phải thánh ca mà giống một đoạn điệp khúc. Vì nhà thờ tối nào cũng chật cứng vào các buổi giảng tối - tất cả đều buộc phải dự và hầu hết đều dự - nên người ta phải xếp thêm chỗ phía sau lan can ban thờ dọc theo các bậc thang, chỗ ấy thường dành cho bọn trẻ và người giữ đồ thánh sẽ lo liệu việc này. Bây giờ thì không. Ita tự mình chọn người được vào đó rồi ngồi ngay giữa đám trẻ, ngước mắt nhìn thẳng lên linh mục, bắt trọn từng lời, những lời cháy bỏng ngay lúc chúng còn đang hình thành trong miệng.

Cha Bonaventure, người ở buổi đầu còn dịu dàng, mỗi bài giảng sau lại thêm quyết liệt, giảng giải về lửa địa ngục, về việc mất đi thị kiến Thiên Chúa, mất đi ân sủng, và nhắc mọi người rằng đây là cơ hội cuối, có lẽ là cuối cùng để được cứu rỗi. Có lúc ông gần như sùi bọt mép. Ông không bỏ sót một ai. Ông dừng lại giữa các từ, các câu để nhìn thẳng vào gương mặt từng người - những gương mặt héo móm của người già trên hàng ghế với cái đầu cúi gằm, những gương mặt hổ thẹn của đàn ông đứng cuối nhà thờ - và với mỗi người, dường ông đang nói trực tiếp và thấu suốt. Rồi, như sợ mình đi quá xa, ông dịu giọng, nhắc họ rằng nếu họ kiên trì trong sự hãm mình thì Chúa sẽ đáp lại, và nguồn suối tình yêu cùng lòng thương xót bị dồn nén của Ngài sẽ vỡ ra rồi ban cho họ điều họ khẩn cầu.

Cảm xúc dâng tràn. Có người run rẩy vì sợ hãi, có người phát nguyện thành tiếng, có người đấm ngực, có người rên rỉ, tất cả trừ Ita vẫn ngước nhìn ông, rạng ngời, thánh thiện, đắc thắng, không còn là con người vụng về trước kia mà gần như một phụ nữ ra dáng với chiếc mũ nồi đội lệch. Người ta đã để ý thấy vì Ita vốn thường quấn khăn trùm đầu và kéo nó ra phía trước đến mức phủ xuống hai bên mặt. Nhưng giờ đây cô ở bên trong lan can ban thờ, dõi mắt nhìn linh mục, chiếc mũ nồi angora đen đội lệch, đôi má ửng hồng. Ít nhất có người thề rằng đó là phấn hồng dù kẻ khác nói đó chỉ là sắc ửng do ánh nến rực cháy.

Trong bài giảng cuối cùng, lòng nhiệt thành nơi ông bừng bừng, tiếng nói ngân vang mạnh mẽ đến mức một đóa loa kèn trắng khẽ rụng khỏi cuống, rơi xuống khăn phủ bàn thờ. Giáo dân rùng mình, tất cả lắng nghe những lời răn khắc nghiệt của ông. “Những tình cảm trần tục,” như ông gọi, phải bị nghiền nát để nhường chỗ cho tình yêu dành cho Đấng Toàn Năng và tình huynh đệ nơi Đức Kitô. Nhiều người trông thấy đóa loa kèn, cánh trắng se lại vì hơi nóng, nhị vàng rắc xuống khăn ban thờ, nhưng rồi đó cũng chỉ là một bông loa kèn, một vật rụng rời bất động.

Khi giáo dân đã về hết, Ita còn nhiều việc phải làm. Cô phải cất những bình rượu lễ và đồ bạc dành cho kỳ thừa sai năm sau, bỏ đi những bông hoa đã héo và đặt những bông còn tươi xuống nền gạch của phòng thánh, tránh khói từ những ngọn nến vừa tắt. Thêm vào đó, người ta còn liên tục làm phiền cô để xin được nói chuyện riêng với Cha Bonaventure. Có kẻ tin rằng một lời riêng với ông sẽ mang lại những ân xá chưa từng có. Con bé ngốc nghếch Della còn xin ông ký vào sổ lưu bút, và vì sự hỗn xược đó nên bị Ita đập cho một cái. Trong lúc ấy Cha Bonaventure đang ở phía sau tấm màn, thay bộ lễ phục thêu của mình để mặc lại chiếc áo nâu của Dòng. Một lúc nào đó giữa mớ bận rộn ấy, hẳn Ita đã lấy đóa loa kèn và bỏ vào túi; có lẽ cô định đặt nó dưới gối, giống như cách các cô gái trẻ thường đặt vụn bánh cưới ở đó để mơ về hôn phu tương lai. Della thề rằng Ita đã khóc, nhưng kỳ thừa sai này vốn khiến nhiều người rơi nước mắt khi được đối diện trực tiếp với sự nghiêm cẩn của đời sống tâm linh. Không ai thực sự thấy cô và Cha Bonaventure nói lời từ biệt. Người ta không thống nhất về giờ ông đi khỏi. Có người nói ông nấn ná, kẻ khác quả quyết ông đi ngay lập tức. Những người bán hàng, dựng lều ngoài cổng nhà nguyện, khi ấy đã dọn hết; chuỗi mân côi xà cừ, tờ rơi đầy ắp chữ, áo ảnh có phép lành cùng đủ món đồ thánh khác đã được đóng thùng chờ gửi đến thị trấn ven biển nơi Cha Bonaventure sẽ giảng đạo.

Ita về nhà, và như người anh trai sau này xác nhận, cô cư xử hoàn toàn bình thường. Anh thừa nhận mình đã hơi gắt gỏng với cô vì cô về quá muộn, anh chở vài người tàn tật về từ kỳ thừa sai mà vẫn có mặt ở nhà sớm hơn cô nửa tiếng. Lửa trong lò đã tắt, anh kể, và anh phải nhóm lại bằng giấy báo cùng dầu hỏa. Trong mắt anh cô không có gì khác thường, trừ việc cô từ chối ăn, thề rằng từ giờ sẽ ăn chay. Những giờ phút đó đánh dấu ranh giới giữa Ita mà mọi người từng biết với kẻ điên dại sau đó, bị lôi đi khi gà vừa gáy sáng.

Dân làng chìm trong giấc ngủ; ngay cả lũ chó thường sủa vang và quấy phá trên bãi cỏ làng cũng đã im lặng thì bỗng một tiếng gầm, rồi một tràng gầm nữa, làm rung chuyển cả làng. Mùa hè, hầu hết mọi người đều mở cửa sổ. Tất nhiên anh trai Ita nghe thấy và cả những hàng xóm gần nhất cũng nghe được, họ bật dậy khỏi giường, tưởng có vụ trộm nào hoặc lũ dân du mục lại nổi loạn. Người ta khoác vội áo choàng và áo len rồi chạy tới, chẳng mấy chốc họ đã có mặt trong phòng Ita, chứng kiến cảnh tượng điên loạn khi cô ngồi bật dậy trên giường, chiếc váy ngủ túm lại quanh eo, khóc nức nở. Anh trai cô hỏi có phải dơi bay vào không, vừa hỏi vừa châm một mẩu nến. Mùa hè dơi thường bay vào trong, bám lên trần nhà hoặc vành chậu rồi chao lượn lúc trời tối. “Không phải dơi… không phải dơi,” cô nói, chỉ vào đóa loa kèn là nguyên nhân cơn mê sảng. Nó nằm bên cạnh cô trên giường, sát bắp chân đầy những vết xước. Nó đã cử động. Nó đã mọc thịt. Nó bị vấy bẩn. Họ phải gọi Cha Bonaventure vì chỉ ông mới yểm trừ được nó.

“Lùi lại… lùi lại,” cô nói khi anh trai cố gỡ đóa hoa khỏi người cô. Giờ cô đã rút về đầu giường, mái tóc đen xõa xượi trên khung sắt uốn. Đôi mắt cô  hoang dại. Cô nghĩ rằng tất cả bọn họ đều chống lại mình và nguyền rủa họ từ thành lũy là chiếc giường. Cô giáo dạy nấu ăn tìm cách xoa dịu, nói rằng mọi người ai cũng thương cô và hỏi cô có muốn một tách trà không. Rồi bà nhắc mọi người nhớ đến công lao to lớn của Ita trong kỳ thừa sai, nói có thể cô chỉ bị kiệt sức. Lời khen làm dịu cơn giận nơi cô, và nở một nụ cười trẻ con, Ita làm dấu thánh giá rồi nói: “Phúc cho ai không vấp ngã vì ta.” Lời lạc giáo ấy cho họ biết chuyện này thực sự nghiêm trọng. Tâm trạng cô dao động giữa trạng thái gần như xuất thần và việc van xin bị đánh, bị quất roi sống. Anh trai cô nói đó là điều cần làm và lao ra khỏi phòng lấy cây gậy tần bì, nhưng hàng xóm can ngăn, bảo rằng phải gọi linh mục vì cô đã bị quỷ ám.

Trong lúc anh trai vắng mặt, Ita đãi mọi người vài câu chuyện kỳ quái kèm những lời chửi thề mà không ai nghĩ chúng có trong tự vị của cô. Cô kể lại cảnh đóa loa kèn tấn công mình, nó chạy ra từ dưới gối, bò khắp người cô như một con nhện lông lá và không thể nào tóm được. Vâng, đó chính là Quỷ, cô biết điều đó. Rồi cô  tỏ ra hoài nghi và nói đó không phải là Quỷ; rồi cô lại cào cấu cơ thể vốn đã đầy vết xước và van vỉ mọi người cầu nguyện để cô được cứu rỗi. Thế nhưng khi Cha Bonaventure đến cô lại cư xử như một kỹ nữ, đưa tay tiếp đón ông, bảo ông thứ lỗi cho tình trạng lôi thôi của mình, thêm rằng đôi tất của cô đã rách bươm. Sau đó cô xin được ở riêng với ông và thì thầm trò chuyện. Cô nhắc đến những ngày họ bên nhau, những lời hứa đã trao, và rằng họ sẽ cùng ra nước ngoài để cải đạo. Mỗi lần ông bảo đó chỉ là ảo tưởng cô lại bùng lên giận dữ và yêu cầu ông hãy nhìn cơ thể mình, nhìn vào nơi Satan đã ở để xua đuổi con rắn, để nghiền nát nó bằng ngón tay cái, bằng bàn chân mang dép hoặc bằng tràng hạt của ông. Ông không muốn nhìn cơ thể cô. Một tay cô túm lấy ông, tay kia cầm cây nến nghiêng trên mảng tóc bạc mỏng và hỏi ông có thấy gì không. Cô nói ông nhất định phải thấy. Nó ở đó. Đó là một vết phồng máu - máu của Chúa Kitô - và có máu là bản chất của nó. Cô đã ở cùng với Chúa Kitô. Ồ, cô biết ông cũng biết, nhưng ông ghen, muốn cô là của riêng mình. Vậy ai mới là kẻ bám víu “những tình cảm trần tục”, van xin tình yêu nơi cô? Còn ai ngoài ông? Ngay lập tức ông bắt đầu đọc kinh và gọi người ngoài hành lang cùng vào cầu nguyện, việc ấy khiến cơn giận của cô dữ dội đến mức cô dí ngọn nến trước tiên vào tay áo váy ngủ rồi đến mảng tóc - nơi cô cho là mình đã bị kết tội ngoại tình. Song họ là ai mà dám ném đá? Ngửi thấy mùi khét, một đứa trẻ từ bếp chạy lên với bình nước, dội xuống người cô. Ita bật cười nói mình cảm thấy như một đứa trẻ, nhớ lại tuổi thơ, những vòng hoa cúc mình từng kết và trò chơi vẽ đồng xu lên trang giấy.

Rất sớm hôm sau cô bị đưa vào trại tâm thần nơi cô ở gần trọn một năm, suốt ngày hóp má, từ chối nói chuyện với bất cứ ai và bị cấm vào nhà nguyện vì chỉ cần nhìn thấy hoa là cô lại phát cuồng. Cô còn tập hút thuốc và ban quản lý cũng chiều theo, nghĩ rằng như thế giúp cô quên đi phiền muộn. Cô xin thuốc lá của khách thăm và bịa ra những câu chuyện hoang đường về chuyến đi Viễn Đông nơi cô từng làm y tá và mắc bệnh sốt rét. Khoảng một năm sau khi đã tê liệt vì thuốc và các liệu pháp sốc điện, họ đưa cô về nhà. Từ đó cô tránh xa mọi người, gầm gừ với bất kỳ ai cất tiếng chào, kể cả linh mục hay bác sĩ. Bây giờ sống một mình, cô lo việc đồng áng, mặc quần áo cũ của anh trai và đi ủng cao su Wellington. Cô lúc nào cũng đang xúc phân, cọ rửa chuồng bò hoặc xách xô thức ăn và nước leo dốc lên chuồng gia súc dự trữ. “Con mụ bị nướng kìa,” người ta nói. Cô như một cột mốc của làng, mỗi tay một xô, hoặc đang lên dốc, hoặc đang quay về để làm đầy lại. Trẻ con bảo rằng cô chửi chúng và đứa nào gõ cửa nhà cô có thể sẽ bị chĩa phân dí vào người hoặc bị hất cả nồi cháo đặc nóng hổi.

Bây giờ tôi hỏi bạn, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ an ủi Ita, sẽ nói với cô rằng những tội lỗi kia chỉ là do cô tự tưởng tượng? Rồi có lẽ bạn sẽ ghé thăm cô gái đang độ xuân sắc kia và gieo vào đầu cô giấc mơ về chốn đô hội? Bạn sẽ la cà với bọn say xỉn và cười đùa cùng những người đàn bà đang ngốn bánh mì trắng; hay bạn sẽ ghé nghĩa trang đọc kinh Kính mừng bên mộ Angela, em gái bà, và người chồng lầm lạc của Angela, cả ba nằm sát nhau làm mồi cho giòi bọ? Hay bạn sẽ phóng xe ầm ầm, mở đài hết cỡ? Có lẽ ngôi làng của bạn cũng chẳng khác là mấy, có lẽ đâu đâu cũng vậy, có lẽ lòng thương xót chỉ còn là thứ xa xỉ và sự cứu rỗi đã là chuyện quá khứ.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Những con đường tình cảm

  Laurence Sterne, bằng sự thuần hậu và tấm lòng không ngừng hướng tới những niềm vui thế gian, đã vạch ra con đường tình cảm để từ ấy tạo ...