Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2025
Thứ Năm, 6 tháng 11, 2025
A
Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025
Túm cái váy vào
Một người đàn ông hỏi tôi làm sao để giữ váy không bị tốc lên giữa trời Tân Trúc lồng lộng gió. Người đó biết rõ va li tôi mang từ Việt Nam chẳng có gì ngoài váy, nhất là váy xòe và, có lẽ anh ta lo tôi sẽ phải loay hoay với đống váy bùng nhùng vào mùa đông sắp tới, mùa đông đầu tiên ở xứ này.
Dĩ nhiên tôi không trả lời, đó không phải điều đàn ông nên hỏi, nhất là những thứ thuộc phạm trù váy vóc. Tôi hỏi anh ta vì sao tò mò về chuyện đó. Anh ta rất thành thực đáp rằng sáng hôm ấy có một transguy bị gió tốc váy tơi bời đi phía trước. Người này vụng về một tay giữ tà váy một tay xách túi đồ, không quên quay ra sau bảo anh ta không được nhìn kèm nụ cười đon đả. Thế nhưng tà váy ấy thật phản trắc, mặc cho chủ nhân ra sức tóm lấy, nó vẫn khéo léo nhập vào chuyển động của gió mà tung lên. Và không ngoài dự đoán, người đàn ông này đúng là phường thô mộc, tôi nghĩ, anh ta đi tới và ân cần khuyên người kia lần sau hãy mặc quần cho khỏi gió. Đến đây tôi càng chắc chắn việc không nên trả lời thắc mắc của anh ta.
K
Ẩn trong sự thuần phục là cuộc phản kháng dữ dội và tăm tối nhất của hữu thể, trực tiếp chống lại mối đe dọa dường phát ra từ ngoại tại hay nội tại vượt khỏi trật tự, bị tống ra ngoài phạm vi của cái khả dĩ, cái có thể chịu đựng, cái khả tư. Nó ở đó, rất gần, nhưng không thể đồng hoá. Nó van vỉ, phiền nhiễu và mê hoặc ham muốn, vốn dĩ, tuy vậy, không thể bị dụ dỗ. E sợ, ham muốn liền ngoảnh đi; ghê tởm, nó khước từ. Tín niệm bảo vệ nó khỏi ô uế - tín niệm mà nó kiêu hãnh nắm giữ. Nhưng đồng thời, chính năng ấy, cơn co thắt ấy, cú bật ấy lại bị cuốn vào một phía khác vừa quyến rũ và vừa bị kết án. Không ngừng, như boomerang không thoát khỏi tay ném, một xoáy lốc của gọi mời và cự tuyệt đặt kẻ bị ám ra ngoài chính mình.
Khi tôi bị sự thuần phục vây hãm, mớ bện xoắn những xúc cảm cùng ý nghĩ mà tôi gọi bằng cái tên ấy, nói chính xác, không có đối tượng xác định. Cái thuần phục không phải một đối tượng đối diện tôi, thứ tôi có thể gọi tên hay hình dung. Nó cũng không phải một đối thể, một tha thể không ngừng lẩn trốn khỏi cuộc truy đuổi có hệ thống của ham muốn. Cái thuần phục không phải cái tương quan của tôi, thứ, nếu trao cho tôi một kẻ khác hay vật khác làm điểm tựa, sẽ cho phép tôi ít nhiều tách khỏi và tự chủ. Cái thuần phục chỉ có một đặc tính của đối tượng - nó đối nghịch với tôi. Nếu đối tượng, trong sự đối nghịch ấy, đặt tôi vào tấm dệt mong manh của ham muốn tạo nghĩa, vốn trên thực tế, khiến tôi trở nên đồng cấu với nó không ngừng, thì cái thuần phục ngược lại, vật bị tống xuất, bị loại trừ triệt để và kéo tôi về chỗ ý nghĩa sụp đổ. Một cái tôi từng nhập với chủ thể thống trị của nó - siêu ngã - đã thẳng tay trục xuất cái thuần phục. Nó nằm bên ngoài toàn bộ hệ thống và, dường không chịu tuân theo quy tắc của trò chơi. Thế nhưng, từ nơi lưu đày, cái thuần phục không ngừng thách thức chủ thể. Không ra dấu hiệu, nó khẩn cầu một sự phóng thích, một cơn co thắt, một tiếng kêu thốt. Mỗi cái tôi có đối tượng của nó, mỗi siêu ngã có cái thuần phục của nó. Nó không phải khoảng trắng hay sự dồn nén uể oải, không phải những chuyển dịch hay biến dạng của ham muốn gây vặn xoắn cơ thể, đêm, hay diễn ngôn; trái lại nó là sự đau khổ thô bạo, thứ mà “tôi” phải chịu đựng, vừa siêu nghiệm vừa suy sụp, “tôi” trút nó cho người cha [verser au père - per-version]: tôi gánh chịu nó, bởi tôi tưởng rằng đó là ham muốn của kẻ khác - cái ham muốn mà tôi chỉ có thể sống được bằng cách phục tùng. Một sự trỗi dậy đột ngột và dữ dội của cái kỳ dị, thứ mà, dù vốn quen thuộc trong một đời sống mờ đục và bị lãng quên, giờ đây bức bách tôi như thứ hoàn toàn tách biệt, ghê tởm. Không phải tôi. Không phải cái đó. Nhưng cũng không phải là hư vô. Một “cái gì đó” mà tôi không nhận ra như một sự vật. Sức nặng của cái vô nghĩa, không có gì là không đáng kể ở trong đó, và nó nghiền nát tôi. Trên bờ vực của phi-hiện hữu và ảo giác, của một thực tại mà, nếu thừa nhận, nó sẽ hủy diệt tôi. Ở đó cái thuần phục và sự thuần phục là phòng tuyến của tôi. Sách vỡ lòng của nền văn hoá của tôi.
Cái lệch chuẩn/ ô uế
Cơn ghê tởm trước một miếng ăn, một mẩu bẩn, phế thải hay phân uế; những cơn co thắt và nôn mửa bảo vệ tôi. Sự ghê tởm, cơn buồn nôn hất tôi sang bên và khiến tôi ngoảnh đi khỏi ô uế, cống rãnh, bùn nhơ. Nỗi hổ thẹn của thỏa hiệp, của việc đứng giữa phản bội. Cú giật mình kéo tôi lại gần chúng, rồi đồng thời tách tôi ra khỏi chúng.
Sự ghê tởm thức ăn có lẽ là hình thái sơ đẳng và cổ xưa nhất của sự thuần phục. Khi mắt thấy hay môi chạm phải lớp váng mỏng nổi trên bề mặt sữa - vô hại, mảnh như tờ giấy cuộn thuốc lá, nhỏ nhặt như mẩu móng tay - tôi cảm thấy một cơn buồn nôn dâng lên, và sâu hơn nữa, toàn cơ thể co rút, các cơ quan như thắt lại trong một phản ứng dữ dội, ứa nước mắt và mật, làm tim đập gấp, khiến trán và bàn tay rịn mồ hôi.
Cùng với cơn choáng khiến mắt mờ đi, cơn buồn nôn khiến tôi khựng lại trước lớp váng sữa, tách tôi khỏi người mẹ và người cha đang chìa nó ra. “Tôi” không muốn dính dáng tới nó, dấu hiệu của ham muốn nơi họ; “tôi” không muốn nghe, “tôi” không muốn tiếp nhận nó, “tôi” tống nó ra. Nhưng bởi thức ăn ấy không phải là một “tha thể” đối với “tôi” - vốn chỉ hiện hữu trong ham muốn của họ - nên tôi trục xuất chính mình, tôi nhổ mình khỏi, tôi tự thuần phục chính mình, trong cùng một chuyển động mà qua đó “tôi” tưởng đang xác lập bản thân. Chi tiết ấy, có lẽ không đáng kể, nhưng là thứ họ soi mói, nhấn mạnh, đem ra cân đo, chính cái tầm thường ấy lộn trái tôi, phơi toang ruột gan; và như thế, họ nhận ra rằng “tôi” đang ở trong tiến trình trở thành một kẻ khác, bằng chính cái giá là cái chết của bản thân. Trong tiến trình ấy, khi “tôi” trở thành, tôi sinh ra chính mình giữa cơn bạo liệt của tiếng nức nở và nôn mửa - một phản kháng câm lặng của triệu chứng, một cơn co giật dữ dội tan vỡ, dẫu chắc chắn đã được ghi khắc trong một hệ biểu tượng, nhưng trong đó, khi không còn muốn hay không thể hòa nhập để đáp lại, nó phản ứng, nó giải tỏa. Nó thuần phục.
Xác chết (hay cadaver, cadere: rơi xuống), kẻ vĩnh viễn đổ gục, là cống rãnh, là cái chết; nó gây cho kẻ đối diện nó sự đảo lộn dữ dội hơn nữa, kẻ nhận ra nơi đó sự mong manh và tính ngẫu nhĩ giả trá của mình. Một vết thương rỉ máu và mủ, hay mùi hăng hắc, hôi nồng của mồ hôi và sự phân hủy, chưa phải là dấu hiệu của cái chết. Đối diện với cái chết đã được biểu đạt - chẳng hạn như đường điện não thẳng tắp - tôi có thể hiểu, phản ứng, hay chấp nhận nó. Không, như trong một tấn kịch chân thực, không phấn son, không mặt nạ, rác rưởi và xác chết phơi bày cho tôi thấy điều mà tôi vĩnh viễn phải gạt bỏ đi để sống tiếp. Những chất dịch của cơ thể, sự ô uế, phân, chính là phần mà sự sống phải gắng gượng chống đỡ, một cách chật vật, trước sức ép của cái chết. Ở đó, tôi đứng trên ranh giới của chính điều kiện tồn tại như một sinh thể sống. Cơ thể tôi cố thoát ra khỏi đường biên ấy như một sự sống còn cựa quậy. Những phế thải ấy rơi xuống để tôi có thể tiếp tục sống, cho đến khi, qua từng mất mát, chẳng còn gì lưu lại trong tôi, và toàn thân tôi vượt khỏi giới hạn - cadere, cadaver. Nếu phân biểu trưng cho phía bên kia của ranh giới - nơi tôi không hiện hữu nhưng lại là điều kiện cho sự hiện hữu của tôi - thì xác chết, thứ ghê tởm nhất trong mọi phế thải, chính là đường biên đã lấn tràn lên toàn thể. Không còn là “tôi” đang trục xuất mà là “tôi” bị trục xuất. Ranh giới đã trở thành một đối tượng. Làm sao tôi có thể hiện hữu nếu không có ranh giới? “Nơi khác” mà tôi hình dung ở bên kia thực tại hay tôi từng tạo ra trong cơn ảo giác để, ngay trong khoảnh khắc hiện tại này, có thể nói với bạn, có thể nghĩ về bạn - bây giờ đã ở đây, bị ném vào, bị thuần phục, rơi vào trong “thế giới của tôi”. Bị tước mất thế giới của mình, tôi ngã quỵ. Nơi vật thô bạo, trần trụi và trơ tráo ấy - phơi ra dưới ánh sáng chói chang của nhà xác - thứ không còn tương ứng với điều gì, và bởi thế, không còn biểu đạt điều gì, tôi nhìn thấy sự sụp đổ của một thế giới đã xoá bỏ ranh giới của nó: sự tắt lịm. Xác chết - khi bị nhìn bên ngoài Thiên Chúa và khoa học - là hình thái tột độ của sự thuần phục. Nó là cái chết lây nhiễm vào sự sống. Thuần phục. Đó là một cái bị ruồng bỏ, nhưng ta không thể tách khỏi, cũng chẳng thể tự bảo vệ mình khỏi nó như đối với một vật thể. Vừa là sự rờn rợn của tưởng tượng, vừa là mối đe dọa thực tại, nó vẫy gọi ta và sau cùng nuốt chửng ta.
Bởi thế khởi nguồn của sự thuần phục không phải là sự thiếu sạch sẽ hay thiếu lành mạnh, mà là những gì làm xáo động căn tính, trật tự, hệ thống. Những gì vượt khỏi ranh giới, vị trí, quy tắc. Thứ ở giữa, mập mờ, lai tạp. Kẻ phản trắc, kẻ dối trá, tội phạm có lương tri, kẻ hiếp dâm không biết hổ thẹn, kẻ sát nhân tự xưng là đấng cứu thế… Mọi tội ác, bởi nó phơi bày sự mong manh của luật pháp, đều là thuần phục; nhưng tội ác có chủ ý, vụ giết người mưu mô, hay sự báo thù giả nhân giả nghĩa còn thuần phục hơn nữa, vì chúng phóng đại và phơi trần chính sự mong manh ấy. Kẻ phủ nhận đạo đức không phải là kẻ thuần phục; bởi ngay trong sự vô luân cũng có thể có cái cao cả, thậm chí trong tội ác công khai khinh miệt luật pháp, vẫn có thể có sự phản kháng, giải phóng, và hủy diệt chính mình. Sự thuần phục, ngược lại, là vô luân, hắc ám, mưu mô và mờ ám: một nỗi kinh hoàng biết ngụy trang, một mối thù biết mỉm cười, một dục vọng dùng cơ thể để đổi chác thay vì đốt cháy nó, một con nợ bán đứng kẻ cho vay, một người bạn đâm lén sau lưng…
Trong những hành lang tối của bảo tàng - di tích còn lại của Auschwitz - tôi nhìn thấy một đống giày trẻ con, hay thứ gì đó tương tự, một hình ảnh tôi đã từng thấy ở nơi khác: chẳng hạn dưới gốc cây Giáng sinh, có lẽ là những con búp bê. Sự thuần phục của tội ác phát xít đạt đến tột đỉnh khi cái chết - vốn dĩ đã giết tôi - lại xen vào và làm hoen ố chính những gì, trong vũ trụ sống của tôi, lẽ ra phải cứu tôi khỏi cái chết: tuổi thơ, khoa học và những điều tương tự.
Sự thuần phục của bản ngã
Nếu quả thực cái thuần phục vừa van nài vừa nghiền nát chủ thể, thì có thể hiểu nó đạt đến cực điểm khi chủ thể ấy, mệt mỏi bởi những nỗ lực vô ích đồng nhất mình với một thứ gì ở bên ngoài, tìm thấy điều bất khả ở bên trong; giây phút nhận ra cái bất khả ấy cấu thành bản thể, rằng bản ngã ấy không là gì khác ngoài cái thuần phục. Sự thuần phục của bản ngã là hình thức tột độ của kinh nghiệm nhận ra rằng mọi đối tượng đều được xây dựng trên mất mai khai nguyên, thứ đặt nền móng cho tồn tại của chủ thể. Không gì giống như sự thuần của phục của bản ngã cho thấy rằng thực chất, mọi sự thuần phục là sự nhận biết khiếm hụt, trên đó mọi hữu thể, ý nghĩa, ngôn ngữ hay ham muốn được kiến lập. Người ta luôn luôn lướt qua từ “khiếm hụt” này, và ngày nay các nhà tâm phân học cuối cùng chỉ quan tâm đến sản phẩm được vật hình hóa ở mức độ này hay khác của nó - “đối tượng của khiếm hụt.” Nhưng nếu ta hình dung (và nhất thiết phải hình dung - bởi chính ở đây, nền tảng của năng lực tưởng tượng đang được kiến lập) kinh nghiệm của khiếm hụt như là cái có tính tiên nghiệm về mặt lôgic so với hữu thể và đối tượng - so với hữu thể của đối tượng - thì khi ấy ta hiểu rằng, sự thuần phục, và hơn nữa là sự thuần phục của bản ngã, chính là nghĩa biểu duy nhất của nó. Ký hiệu của nó, như vậy, không gì khác ngoài văn chương. Cơ Đốc giáo huyền nhiệm đã biến sự thuần phục của bản ngã thành bằng chứng tối hậu của lòng khiêm nhường trước Thiên Chúa, như Elizabeth xứ Hungary, “dẫu là một công nương cao quý, vẫn chẳng lấy gì làm vui thích hơn việc tự hạ mình.”
Câu hỏi còn lại dành cho sự thử luyện, lần này mang tính thế tục, mà sự thuần phục có thể cấu thành nơi một kẻ, trong cái gọi là tri thức về sự thiến, quay lưng khỏi những ngã rẽ lệch lạc và trình diện cơ thể cùng bản ngã của mình như những phi-vật thể quý giá nhất; chúng không còn được nhìn nhận như những thực thể tự thân mà trở thành những gì bị đánh mất, bị thuần phục. Sự kết thúc của quá trình phân tích tâm lý có thể dẫn ta đến đó, như ta sẽ thấy. Ấy chính là đau đớn và khoái cảm của chủ nghĩa khổ dâm.
Về yếu tính nó khác với cái kỳ dị, dữ dội hơn nhiều, sự thuần phục hình thành qua những thất bại trong việc nhận ra cái từng thuộc về mình; không có gì thân thuộc, ngay cả bóng của ký ức. Tôi hình dung một đứa trẻ đã nuốt chửng bố mẹ nó tứ sớm rồi tự làm mình kinh hãi vì điều đó, chỉ còn một mình, và để tự cứu mình, nó từ chối và nôn ra tật tật những gì được trao cho - mọi món quà, mọi đối tượng. Nó có, hoặc có thể có, ý thức về cái thuần phục. Ngay cả trước khi mọi sự hiện hữu đối với nó - và bởi thế, trước khi chúng trở nên khả biểu - nó đã xua đuổi chúng, bị chi phối bởi xung năng; và bằng hành vi ấy, nó kiến tạo nên lãnh địa của riêng mình, được viền quanh bởi cái thuần phục. Một cấu trúc thiêng liêng. Nỗi sợ là thứ gắn kết nên toàn khối ấy, kết liền với một thế giới khác, bị nôn ra, bị xua đuổi, bị đánh mất. Điều mà nó đã nuốt vào, thay cho tình yêu mẫu tính, là một khoảng trống, hay đúng hơn, một mối thù hận mẫu tính không lời, không có tự vị nào thuộc về người cha; chính điều ấy là cái mà nó không ngừng ra sức tẩy trừ khỏi mình. Có lẽ là người cha - một hiện hữu bất định, yêu thương nhưng chao đảo, chỉ là một ảo ảnh, song ảo ảnh vẫn còn đó. Không có ông, đứa trẻ ấy hẳn chẳng có lấy cảm thức nào về cái thiêng; một chủ thể trống rỗng, nó sẽ bối rối, mắc kẹt trong bãi phế thải của những phi-vật thể, những gì luôn luôn bị đánh mất; trái lại, được củng cố bởi chính sự thuần phục, nó cố gắng tự kéo mình ra khỏi. Nó không điên, kẻ mà qua nó cái thuần phục hiện hữu. Từ sự ngợp đã hóa đá nó trước cơ thể bất khả chạm, bất khả đạt, vắng mặt của người mẹ - sự ngợp khiến xung năng của nó bị cắt lìa khỏi đối tượng của mình, tức là khỏi các biểu tượng của chúng - chính sự ngợp ấy, cùng với nỗi ghê tởm, một từ trồi lên: sợ hãi. Kẻ kinh hãi không có đối tượng nào khác ngoài cái thuần phục. Nhưng từ “sợ hãi” - một làn sương trơn trượt, một thứ ẩm lạnh khó nắm bắt - vừa mới trồi lên đã mờ dần đi như ảo ảnh rồi thấm vào mọi lời trong ngôn ngữ bằng cái phi-hiện hữu, bằng ánh lân tinh mộng huyễn của ảo giác và bóng ma. Như thế, khi sợ hãi đã đặt trong ngoặc, diễn ngôn chỉ có thể tồn tại nếu nó không ngừng đối diện với tính tha thể ấy - một gánh nặng vừa ghê tởm vừa bị ghê tởm, một vực ký ức sâu thẳm, vừa bất khả tiếp cận vừa thân mật: cái thuần phục.
Vượt khỏi vô thức
Nói cách khác, điều này nghĩa là vẫn có những đời sống không được duy trì bởi ham muốn vì ham muốn luôn luôn hướng đến đối tượng. Những đời sống ấy được kiến lập trên nền của sự loại trừ. Chúng hoàn toàn dị biệt với chứng loạn thần kinh hay loạn tâm thần vốn được cấu trúc bởi phủ định cùng các hình thức của nó: vi phạm, chối bỏ và khước từ. Động năng của chúng thách thức toàn bộ lý thuyết về vô thức bởi lý thuyết ấy vốn phụ thuộc vào một biện chứng của tính phủ định.
Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2025
Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2025
Illusion
Ảo tưởng
Miss Bruce là một cư dân lâu năm của khu Quartier [1]. Suốt bảy năm cô sống ở đó, trong một căn gác nhỏ trên tầng năm. Cô từng vẽ chân dung, đôi khi còn đem tranh đi triển lãm ở Salon. Cô đôi lúc bán được một bức tranh - thành tựu đáng kể đối với Montparnasse, nhưng dễ hiểu, tôi tin rằng cô có đầu óc, nhưng không có thừa, dù tôi cũng chẳng rành mấy chuyện ấy.
Cô là một phụ nữ cao, gầy, với khung xương, bàn tay và bàn chân to. Người ta dễ tưởng cô là tấm gương sáng về sức mạnh của phẩm cách và kỷ luật - phẩm cách và kỷ luật Anh. Sau bảy năm ở Paris cô hoàn toàn không bị chạm tới, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ thứ gì mang hơi hướng cuồng nhiệt, có nét ngoại lai hoặc không lành mạnh. Xung quanh cô phần lớn người ta tôn thờ cái đẹp và sùng bái tình yêu thể xác: cô chỉ nhìn mọi thứ bằng ánh mắt lành mạnh, tỉnh táo rồi gạt chúng ra khỏi các ý nghĩ… giống như một tảng đá kiên định giữa những đợt sóng xanh bất lực vỗ quanh.
Khi những người phụ nữ xinh đẹp đi ngang qua trên phố hoặc ngồi gần cô trong quán ăn, cô sẽ quan sát họ bằng con mắt của một hoạ sĩ rồi buông ra lời phê bình chừng mực. Cô không tỏ ra chút tò mò hay ghen tị nào. Còn về những người khác, những petites femmes, bận rộn soi gương trong túi xách rồi bồn chồn dò xét xung quanh qua lớp mi kẻ đậm: “Thật tội nghiệp cho họ!” Miss Bruce sẽ nói. Không theo lối cứng rắn mà khoan dung, thản nhiên; thực ra còn mang âm điệu rất quý ông... Những con người bé nhỏ đáng thương ấy!
Cô lúc nào cũng ăn mặc gọn gàng: mùa hè mắc chiếc váy serge giản dị, mùa đông vận bộ tweed chỉnh tề, đi giày nâu gót thấp và mang vớ bông. Khi đi dự tiệc, cô mặc một chiếc váy đen bằng crêpe de chine, cắt may vừa khéo, đủ đẹp nhưng không đến mức lộng lẫy.
Thật ra Miss Bruce là một người phụ nữ vô cùng đứng đắn, dễ mến.
Cô chỉ thoa chút phấn lên mũi như một sự nhượng bộ dành cho Paris; còn lại gương mặt cô sáng lên trong ánh nắng hoặc dưới đèn điện, tùy lúc, với làn da sạch sẽ, bóng nhẹ sau khi rửa kỹ và lấm tấm vài nốt tàn nhang dễ mến.
Cô, dĩ nhiên, cũng như hầu hết các họa sĩ người Anh và Mỹ ở Paris, có một khoản thu nhập riêng - một khoản khá đáng kể, tôi tin chắc. Cô quen biết hầu hết mọi người nhưng không thân thiết với ai. Chúng tôi dùng bữa tối và bữa trưa cùng nhau, thỉnh thoảng, trong hai năm, song tôi vẫn chỉ biết vẻ bề ngoài của Miss Bruce - điềm tĩnh, tỉnh táo và gọn gàng rất Anh.
Hôm ấy chúng tôi có hẹn vào một buổi chiều nóng nực và nắng gắt, tôi đến để gặp cô vào khoảng ba giờ. Tôi được đón bởi người gác cổng trông hết sức bối rối.
Mademoiselle đã nằm liệt giường một ngày, thì, bất ngờ, lúc tám giờ tối cơn đau trở nên dữ dội. Người giúp việc, bà Pichon, đã ở bên cô cả ngày cùng người gác cổng sốt sắng bàn bạc rồi vội vã gọi bác sĩ và, theo lời khuyên của ông ta, họ đưa cô đến Bệnh viện Anh bằng xe cứu thương.
“Cô ấy chẳng mang theo gì hết,” người giúp việc nói, một người đàn bà gầy gò và nói nhiều. “Chẳng mang theo gì cả, pauvre Mademoiselle .” Nếu Madame - tức là tôi - chịu khó lên xưởng vẽ, thì chìa khoá đây. Tôi đi theo bà Pichon lên cầu thang. Tôi phải đến gặp Miss Bruce ngay và mang cho cô ít đồ dùng. Cô cần ít nhất vài bộ đồ ngủ, lược và bàn chải.
“Chìa khóa tủ áo của Mademoiselle,” bà Pichon ẩn ý, đồng thời liếc tôi khó hiểu, “trong ngăn kéo nhỏ này. À, les voilà!”
Tôi cảm ơn bà theo lối muốn nhanh kết thúc câu chuyện. Madame Pichon là kiểu người tôi vốn không ưa, tôi kiên quyết nhìn bà chậm rãi bước ra cửa, cố khơi chuyện, rồi cuối cùng, đầy miễn cưỡng, biến mất. Sau đó tôi quay lại chiếc tủ quần áo lớn, vuông vức, chắc chắn bằng gỗ cũ sẫm màu, rất hợp với những chiếc áo khoác và váy dày dặn, cứng cáp của Miss Bruce. Thật ra phần lớn nội thất của cô đều lớn và vuông vức. Có lẽ một phần bản tính khiến cô coi trọng sự vững chãi và giá trị hơn vẻ duyên dáng hay mộng tưởng. Ổ khóa khá cứng, nhưng cuối cùng tôi cũng xoay được.
“Lạy Chúa!” tôi buột miệng. Rồi, quá đỗi ngạc nhiên, tôi ngồi thụp xuống ghế và nói: “Ôi, một phụ nữ kỳ lạ!”
Bởi vì khi mở tủ áo của Miss Bruce ra, ta thấy một rực rỡ sắc màu, một hỗn độn những tấm lụa mềm mại... tất tật những gì không ai ngờ tới.
Ở giữa, vị trí trang trọng nhất, treo một chiếc váy dạ hội có sắc vàng cổ tuyệt đẹp; bên cạnh treo một chiếc váy khác màu lửa; có hai chiếc váy đen, một chiếc điểm bạc, chiếc còn lại thêu hoa văn bằng chỉ xanh lục và lam. Còn có một chiếc váy kẻ caro đen trắng kèm thắt lưng điệu đà, một chiếc crêpe de chine in hoa - thật sự in hoa! - rồi cả một bộ đồ lễ hội trang trí mặt nạ; và sau cùng, một đống, đúng là một đống rối rắm những màu sắc của vải đủ loại.
Trong thoáng chốc, tôi nghĩ đến chứng ăn cắp vặt rồi lập tức gạt phăng ý ấy. Vậy những bộ váy này dành cho người mẫu ư? Vô lý! Ai lại chi cả ngàn franc để sắm váy cho người mẫu chứ... Dù sao ở đây cũng chẳng có chiếc áo ngủ nào cả.
Khi tôi đang quét mắt, phân vân, tôi thấy ở góc phòng để một chiếc hộp không nắp. Bên trong là một dãy các hộp nhỏ xếp gọn gàng: Rouge Fascination, Rouge Mandarine, Rouge Andalouse; vài loại phấn, chì kẻ mắt và đồ chuốt mi - bộ trang điểm hoàn chỉnh cho một Manon Lescaut đang độ chớm nở. Không thiếu thứ gì: còn có cả nước hoa.
Tôi vội vàng đóng cửa. Tôi không có quyền nhìn hay đoán. Nhưng tôi đã đoán. Tôi biết. Khi tôi mở cánh cửa tủ còn lại và lục tìm những bộ đồ ngủ, tôi đã biết tất tật: Miss Bruce, mỗi lần đi ngang qua cửa hiệu, mang trong mình cơn đói triền miên được xinh đẹp cùng cơn khát được yêu, đó là lời nguyền của Eva, giấu kín tài tình dưới lớp váy áo gọn gàng, có phần bị đè nén, có phần không được nhận ra.
Miss Bruce đã nhìn thấy một chiếc váy và chợt nghĩ: trong chiếc váy ấy có lẽ… Và, ngay sau đó: sao lại không? Thế là cô bước vào cửa hiệu, mặt ửng đỏ, hỏi giá. Đó là lần đầu tiên: một sự tình cờ, một cơn bốc đồng.
Chiếc váy hẳn đã khiến cô thất vọng, nhưng vẫn đủ đẹp, đủ vừa vặn để dụ dỗ cô. Kể từ đó cuộc tìm kiếm bắt đầu, một chiếc Vát Hoàn Hảo, đẹp đẽ, tôn dáng, có thể diện được. Và cuối cùng, một cuộc kiếm tìm Ảo tưởng - một cơn khát, gần như khoái trá; những dòng nước vụng trộm và miếng bánh ăn trong lén lút của đời Miss Bruce.
Khoảnh khắc kỳ diệu biết bao! Khi chiếc váy mới được mang đến và hiện ra, rạng rỡ và duyên dáng, từ trong lớp giấy mỏng.
“Hãy mặc tôi đi, hãy ban cho tôi sự sống,” dường như nó nói với cô, “và tôi sẽ gắng sức vì cô!”
Và trước hết, không phải không khéo - vì cô vốn là họa sĩ chân dung - Miss Bruce sẽ thoa phấn, đánh Rouge Fascination, thoa son lên môi, cuối cùng là mặc chiếc váy. Rồi cô sẽ nhìn vào gương - thấy một người khác. Đêm ấy cô say ngủ với hơi ấm rạng rỡ trong tim. Chẳng có gì bất khả, cái đẹp và mọi thứ cái đẹp mang lại. Nó ở ngay trong tầm tay, chỉ cần dám với đến. Nhưng bằng cách nào đó cô không dám, vào buổi sáng hôm sau.
Tôi biết ơn vơ lấy chồng áo ngủ và ngồi xuống, lòng ngổn ngang. Tôi biết cô hẳn ghét việc tôi nhìn thấy những chiếc váy: bà Pichon thế nào cũng sẽ tọc mạch việc tôi đã mở tủ. Nhưng cô ấy cần đồ ngủ. Tôi bước tới khóa cánh tủ và bất chợt một sự thương hại vô lý dâng lên dành cho những thứ đồ xinh đẹp bên trong. Tôi tưởng tượng chúng, khẽ nhún đôi vai lụa, xào xạc, thầm thì về anglaise đã cả gan mua để rồi kết án chúng sống trong bóng tối… Và tôi lại mở cửa tủ lần nữa.
Chiếc váy vàng trông có vẻ độc địa, buông thõng trên móc áo; những chiếc váy đen u uất, chỉ có chiếc váy hoa nhí sặc sỡ dường đang đợi thân hình mềm mại cùng các chuyển động sẽ thổi vào nó sự sống.
Khi tôi gặp Miss Bruce sau một tuần, tôi thấy cô nằm yên, sạch sẽ, điềm tĩnh và chừng mực trong phòng bệnh lớn, một bệnh nhân viêm ruột thừa. Họ chữa trị cho cô và hai hay ba tuần sau chúng tôi lại cùng ăn tối ở nhà hàng quen. Đến lúc uống cà phê cô bỗng hỏi: “Chắc cô đã để ý thấy bộ sưu tập váy của tôi rồi. Sao tôi lại không được sưu tầm váy chứ? Chúng mê hoặc tôi. Màu sắc và tất tật. Lắm lúc thật tinh xảo!”
Dĩ nhiên, cô nói thêm, cẩn thận nhìn chăm chú bức tranh treo trên đầu tôi mà theo trông rất tệ: “Tôi không dại mà mặc chúng đâu… Chúng đáng ra phải được mặc, tôi nghĩ vậy.”
Một cô gái tròn trịa, tóc sẫm ngồi gần đó, nhìn sâu vào mắt người bạn trai phốp pháp có làn da ngăm giống mình rồi châm điếu thuốc bằng chuyển động có phần kiểu cách của một người vốn không hút thuốc.
“Bàn tay và cánh tay không tệ, cô gái đó,” Miss Bruce cất lời trong cung cách lịch thiệp của một quý ông.
Chú thích:Những con đường tình cảm
Laurence Sterne, bằng sự thuần hậu và tấm lòng không ngừng hướng tới những niềm vui thế gian, đã vạch ra con đường tình cảm để từ ấy tạo ...
-
Vậy là đã được một tháng rưỡi sống ở Tân Trúc, nơi mà như cái tên, chẳng có gì ngoài trúc. Hai tháng trước, khi máy bay cất cánh, tôi đã nh...
-
Có thể đi vào một nhân vật bằng cách lội qua các trước tác văn chương, critical essays và trong trường hợp này, những bức thư. Fou Lei (傅雷),...
-
Thành phố đột ngột trở đông, những đợt gió thổi dữ dội và cảnh quan xunh quanh mờ nhoà lặng lẽ. Cô mở ngăn tủ lấy ra chiếc áo măng-tô bông c...